204 số bộ dữ liệu tìm thấy

Định dạng: word

Kết quả lọc
  • Study on photoluminescence properties of porous GaP material

    1 Resources
    This paper reports on the photoluminescence of porous GaPprepared by electrochemical anodization of (111)-oriented bulk material.Porousand bulk GaP exhibits green and red photoluminescences, respectivelywhen excited by a355-nm laser. The photoluminescence intensity of porous GaP is much stronger than that of the bulk sample. Temperature-dependent time-resolved photoluminescence shows that the green emission gradually decreaseswhen the temperature increasesand the photoluminescence full width at haft maximum (FWHM) slightly narrows with decreasing temperature. These resultsare assigned to the contribution of lattice vibrations. Raman scattering measurement is carried out to confirm the size decrease of the porous GaP material.
  • Nghiên cứu tạo rễ tơ ở cây thổ nhân sâm Việt Nam (Talinum paniculatum Gaertn.)

    1 Resources
    Cây thổ nhân sâm (Talinum paniculatum Gaertn.) chứa flavonoid và saponin có khả năng chống oxy hóa mạnh, được dùng để điều trị một số bệnh như viêm nhiễm, dị ứng, loét dạ dày… Tuy nhiên, hàm lượng flavonoid tổng hợp tự nhiên trong cây thổ nhân sâm rất thấp (khoảng 0,897 mg/g lá tươi). Do đómột phương phápđã được đề xuấtđể tăng cườnghàm lượngflavonoid trong cây thổ nhân sâm là ứng dụng kỹ thuật nuôi cấy mô tạo dòng rễ tơ tăng sinh khối. Nghiên cứu này trình bày kết quả tối ưu hóa quy trình tạo dòng rễ tơ thông qua Agrobacterium rhizogenes (A. rhizogenes) ở cây thổ nhân sâm. Trong 3 loại vật liệu lây nhiễm với A. rhizogenes(lá mầm, đoạn thân mang mắt chồi bên, mô lá) thì mô lá là vật liệu thích hợp cho tạo rễ tơ. Mật độ vi khuẩn tương ứng với giá trị OD600 = 0,6; nồng độ AS 100 μmol/l; thời gian nhiễm khuẩn 10 phút; thời gian đồng nuôi cấy 2 ngày; nồng độ cefotaxime 500 mg/l là những điều kiện thích hợp cho cảm ứng tạo rễ tơ từ mô lá. Môi trường MS ở trạng thái lỏng, không bổ sung chất điều hòa sinh trưởng, nuôi trong điều kiện lắc là thích hợp cho sự tăng trưởng rễ tơ. Kết quả kiểm tra sự có mặt gen rolC bằng phương pháp PCR và sự vắng mặt của gen virD2 đãkhẳng định 5 dòng...
  • Nghiên cứu đặc điểm hình thái các loài thuộc chi Nhân sâm –PanaxL. (Araliaceae) ở Việt Nam

    1 Resources
    Chi Nhân sâm – Panax L. là một chi nhỏ trong họ Araliaceae, phân bố ở vùng núi cao phía Bắc và một số vùng núi cao thuộc miền Trung và Tây Nguyên, Việt Nam. Các loài thuộc chi Panax là những loài cây thuốc có giá trị cao, tuy nhiên việc chặt phá rừng và thu mua ồ ạt, trái phép đã khiến số lượng cá thể các loài Panax suy giảm nghiêm trọng. Cho đến nay, các nghiên cứu và công bố về các loài thuộc chi này còn rời rạc, chưa thống nhất và dễ nhầm lẫn. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã nghiên cứu trên 70 mẫu cây tươi của5 loài/ thứ thuộc chi Panax L.. Qua nghiên cứu so sánh đặc điểm hình thái đã xác định được các đặc điểm phân biệt phục vụ định loại vềhình dạng thân rễ, số lượng hoa trên 1 tán, màu sắc và hình dạng đĩa hoa, vòi nhụy, số ô của bầu và hình dạng hạt. Qua đó đã lập khóa định loại cho 2 loài và 3 thứ loài thuộc chi nàyở Việt Nam. Cùng với đó, các dữ liệu về sinh thái, phân bố, giá trị sử dụng và hiện trạng bảo tồn cũng đượctổng hợp.
  • Phát triển sinh kế nông nghiệp vùng ven biển tỉnh Nam Định theo hướng bền vững

    2 Resources
    Dựa trên các tài liệu thu thập tại các huyện Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng và kết quả phỏng vấn với 200 hộ gia đình tại các xã ven biển thuộc ba huyện kể trên, bài báo tập trung vào việc nghiên cứu các nguồn lực cho nông nghiệp của người dân địa phương. Trên cơ sở đó tác giả phân tích hiện trạng phát triển và đánh giá tính hiệu quả của sinh kế nông nghiệp cả ở cấp độ cộng đồng và cấp hộ gia đình. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù được coi là sinh kế cơ bản của người dân vùng ven biển Nam Định, nhưng dưới tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) và sự chuyển dịch các điều kiện kinh tế - xã hội, nông nghiệp hiện đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của sản xuất. Do đó, để nền nông nghiệp vùng ven biển Nam Định có thể phát triển bền vững, cộng đồng địa phương và mỗi hộ gia đình cần có các giải pháp vừa tức thời, vừa lâu dài để đảm bảo tính hiệu quả của sản xuất nông nghiệp.
  • KHẢO SÁT MỘT SỐ HOẠT TÍNH SINH HỌC CAO CHIẾT METHANOL CỦA RỄ TƠ VÀ RỄ TỰ NHIÊN CÂY BÁ BỆNH (EURYCOMA LONGIFOLIA JACK)

    1 Resources
    Bá bệnh (Eurycoma longifolia Jack) là loại thảo dược dùng điều trị bệnh sốt rét, ung thư, tiểu đường, rối loạn chức năng tình dục và tăng cường sức khỏe ở nam giới. Năm 2012, chúng tôi đã báo cáo phương pháp tạo rễ tơ của cây Bá bệnh với mục đích để tạo nguồn nguyên liệu ổn định, đáp ứng nhu cầu làm thuốc. Trong bài báo này, chúng tôi khảo sát hoạt tính sinh học của cao chiết methanol rễ tơ và rễ tự nhiên cây Bá bệnh. Kết quả cho thấy cao chiết methanol rễ tơ và rễ tự nhiênức chếsản xuất cytokine gây viêm IL-6 kích thích bởi Lipopolysaccharide (LPS)ở dòng tế bàoTHP-1với IC50 tương ứng là 3,6 và 6,6 (µg/ml). Cao chiết methanol rễ tơ và rễ tự nhiêncó hoạt tính gây độc tế bào ung thư ở mức trung bình trên các dòng tế bào HepG2, LU-1, MCF-7 với IC50¬tương ứng là77,4, 61,1,88,2 (µg/ml) và 63,8, 46,2, 54,8 (µg/ml). Tuy nhiên, cả hai loại cao chiết nghiên cứu đều không có khả năng ức chế peroxidation lipid (IC50¬> 100).
  • Phân bố ấu trùng, cá con bộ cá Bơn (Pleuronectiformes) ở ven bờ cửa sông Ka Long và Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh

    1 Resources
    Bộ cá Bơn (Pleuronectiformes) với 678 loài thuộc 14 họ có giá trị kinh tế cao. Để nghiên cứu đặc điểm phân bố ấu trùng cá con bộ cá Bơn ở vùng cửa sông, các chuyến thu mẫu thực địa từ năm 2013 đến năm 2015 bằng lưới ven bờ tại cửa sông Ka Long và Tiên Yên ở tỉnh Quảng Ninh đã thu được 137 mẫu thuộc 5 loài của bộ cá Bơn. Trong đó, tại cửa sông Ka Long thu được 15 mẫu của 4 loài và ở cửa sông Tiên Yên thu được 122 mẫu của 2 loài. Ấu trùng, cá con bộ cá Bơn xuất hiện vào mùa khô, trong môi trường nước lợ, có độ mặn từ 5,5‰-26,1‰. Trong 5 loài thu được, loài cá Bơn trứng (Solea ovata) là loài duy nhất thu được tại cả 2 cửa sông ở các điểm có độ mặn từ 5,5‰-26,0‰. Bài báo cũng đã đánh giá mối quan hệ giữa sự phân bố của chúng với các yếu tố môi trường nước tại khu vực nghiên cứu. Từ các kết quả nghiên cứu, bài báo này chỉ ra rằng cửa sông Ka Long có vai trò quan trọng hơn cửa sông Tiên Yên đối với giai đoạn sớm của các loài cá Bơn.
  • Kết quả nghiên cứu thành phần loài động vật đáy khu vực ven biển tỉnh Thái Bình

    1 Resources
    Kết quả khảo sát, điều tra tại khu vực ven biển tỉnh Thái Bình theo 2 đợt vào tháng 6 và tháng 10 năm 2014 đã ghi nhận 72 loài động vật đáy thuộc 56 giống, 33 họ, 14 bộ, 4 lớp (Gastropoda, Bivalvia, Crustacea, Polychaeta), 3 ngành (Mollusca, Arthropoda, Annelida). Trong đó, ngành Thân mềm (Mollusca) có số loài nhiều nhất với 46 loài, chiếm 63,8%, ngành Giun đốt (Annelida) có số loài ít nhất với 3 loài, chiếm 4,3%. Mật độ động vật đáy trung bình tại các điểm thu mẫu tại khu vực ven biển tỉnh Thái Bình dao động từ 17 - 420 cá thể/m2. Chỉ số đa dạng Shannon-Weiner (H’) trung bình tại các điểm thu mẫu dao động trong khoảng từ 2,13 - 3,63. Từkhóa: Động vật đáy, Shannon-Weiner, chỉ số đa dạng sinh học, ven biển, tỉnh Thái Bình
  • Hình thức sinh sản, đặc điểm hình thái và cấu trúc mô học của tuyến sinh dục cá bống trứng Eleotris melanosomaở ven biển Sóc Trăng

    1 Resources
    Nghiên cứu này được thực hiện ở vùng ven biển Sóc Trăng nhằm cung cấp thông tin hữu ích về hình thức sinh sản, hình thái và cấu trúc mô học của noãn sào và tinh sào và sự phát triển của noãn bào và tinh bào ứng với từng giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục để làm cơ sở cho khai thác bền vững nguồn lợi cá bống trứng Eleotris melanosoma – một trong những loài cá có vai trò kinh tế ở khu vực nghiên cứu. Kết quả phân tích 65 mẫu cá (28 cá cái và 37 cá đực) thu được vào mùa mưa và mùa khô cho thấy loài này thuộc nhóm cá đẻ tập trung thành từng đợt trong mùa sinh sản (tháng 9 đến tháng 11) do noãn sào và tinh sào ở giai đoạn trưởng thành và chín chứa chủ yếu noãn bào và tinh bào thời kỳ 4 và 5. Những kết quả này không chỉ bổ sung dẫn liệu về đặc điểm sinh học sinh sản của loài này mà còn là cơ sở cho việc đề xuất thời gian đánh bắt phù hợp nhằm đảm bảo phát triển bền vững nguồn lợi của loài này ở khu vực nghiên cứu.
  • Góp phần kiểm kê các taxôn thuộc chi Thông tre theo quan niệm hẹp PodocarpusL’Hér. ex Pers.s.str. (họ Thông tre Podocarpaceae) ở Việt Nam

    1 Resources
    Thông tre (Podocarpus) là một chi ít loài thuộc họ Thông tre (Podocarpaceae), có giá trị khoa học và thực tiễn nhất định. Tuy nhiên Việt Nam bị coi là một trong 10 “điểm nóng’ về Thông ở trên thế giới.Mục đích nghiên cứu này là kiểm kê thành phần và nghiên cứu các taxôn thuộc chi Podocarpus theo quan niệm hẹpở Việt Nam nhằm cung cấp cơ sở khoa học để sử dụng bền vững chúng. Phương pháp nghiên cứu là so sánh hình thái ngoài. Mẫu vật nghiên cứu gồm 46 số hiệu mẫu vật lịch sử và 7 số hiệu mẫu mới thu thập, được lưu trữ tại HNU với lý lịch rõ ràng và đầy đủ. Tên khoa học được xác định bằng cách đối chiếu chủ yếu với các Bản tên hợp lệ và tu chỉnh. Kết quả nghiên cứu cho thấy ở Việt Nam chi Thông tre: 1. Chỉ có 2 loài mọc tự nhiên là PodocarpusneriifoliusD.Don vàPodocarpuspilgeriFoxw., trong đó loài P.neriifoliusD.Donđầu tiên bao gồm 2 thứ, làP.neriifoliusvar. neriifoliusvà P.neriifoliusvar. annamiensis (N.E.Gray) L.K.Phanms.vàPodocarpusmacrophyllus(Thunb.) Sweetđược nhập nội vào trồng làm cây cảnh; 2. Đã xây dựng được khóa xác định các taxôn thuộc chi Thông tre theo quan niệm hẹp; 3.Đối với mỗi taxôn đã chỉ ra được danh pháp và mẫu chuẩn, mô tả các đặc điểm hình thái kèm theo ảnh...
  • Ảnh hưởng của nồng độ tiền chất, dung môi đến sự hình thành màng nano TiO2 bằng chế tạo thủy nhiệt. Khảo sát hiệu ứng siêu thấm nước của màng TiO2 dưới chiếu tia UV

    1 Resources
    Màng mỏng TiO2 được nghiên cứu chế tạo theo phương pháp thủy nhiệt. Với việc thay đổi nồng độ của tiền chất Ti4+ 0,1M và 0,5M. Hai loại dung môi được sử dụng cho sol chế tạo màng là Isopropyl alcohol C3H7OH và Propan-1,2-diol C3H8O2. Nhiệt độ thủy nhiệt được giữ ở 160 oC. Kính thủy tinh được phủ lớp mầm của màng TiO2 trước khi chế tạo màng theo thủy nhiệt để điều chỉnh độ dày màng theo ý muốn. Kết quả thực nghiệm cho thấy: màng nano TiO2 chế tạo được ở dạngđơn pha anata được kết tinh ở nhiệt độ thấp, kích thước đồng đều, cỡ 2÷3 nm với dung môi propan-1,2-diol và khoảng 8 nm với dung môi isopropanol. Các màng chế tạo đều cho hiệu ứng siêu ưa nước tốt khi chiếu sáng UV. Trong đó, màng chế tạo với dung môi isopropanol có tính ưa nước tốt hơn.
  • Study on determination method of cyclic siloxanes in personal care products collected from Hanoi, Vietnam

    1 Resources
    Cyclic siloxanes are widely used in beauty products as softener and polisher. Howeve, very few studies have reported the occurrence and amount of cyclic siloxanes in personal care products.In this research, the analysis method of cyclic siloxanes including octamethylcyclotetrasiloxane, decamethylcyclopentasiloxane, and dodecamethylcyclohexasiloxane in PCPs was developed by using a gas chromatography-mass spectrometry system.The method detection limits and the method quantification limits of individual cyclic siloxanes were 0.7 ng/g and 2.0 ng/g, respectively.Mean recoveries of surrogate compound and target compounds for the procedural blanks ranged from 88.5 to 94.9%. The recoveries of M4Q for real samples ranged from 75.5 to 120%. The optimal procedure was appliedto measure the amount of D4, D5, and D6 in several samples of PCPs including shampoos, hair gels, and shower gels collected from retail stores in Hanoi, Vietnam.Mean concentrations of D4, D5 and D6 in PCPs rangedof 0.313 – 5.61µg/g, 0.683 – 11.7µg/g, and 0.294 – 3.38µg/g, respectively.
  • THE ECOLOGICAL QUALITY STATUS OF SEDIMENT IN THE ORGANIC SHRIMP FARMING PONDS - USE OF A NEW BIOTIC INDICES BASED ON MAROBENTHIC COMMUNITIES

    1 Resources
    In spite of the development and widespread dissemination ofthemodel organic shrimp farming systems, the biological communities in the organic shrimp farming pondshave still very limited. Therefore, we conducted a field survey for macrobenthic communities(MC) of theTam Giang‘s organic shrimp farming ponds (TGOSFP) located in Tam Giang commune, Nam Can district, Ca Mau province during three seasons in 2015 (March - dry, July - transferitional and November - wet rainseason). The results indicated that the MChave characterized by high density and slightly diversitythat is a rich natural food sources for shrimp in the TGOSFP. Further more, the present study is a first attempt to use of new indices (AMBI - AZTI’s Marine Biotic Index) on MC for determining the ecological quality status of sediment (EcoQ) in the TGOSFP.The following results were also recordedwith anundisturbedandslightly disturbed EcoQ in the TGOSFP and the general EcoQ would likely be improved between three seasons.The success of AMBI for detecting EcoQin Vietnam is specific to this study, but AMBI was likely to improved, in particular tropical regions.
  • Optical Biosensors Based on Multimode Interference and Microring Resonator Structures - A Personal Perspective

    1 Resources
    We review our recent works on optical biosensors based on microring resonators (MRR) integrated with 4x4 multimode interference (MMI) couplers for multichannel and highly sensitive chemical and biological sensors. Our proposed sensor structures have advantages of compactness, high sensitivity compared with the reported sensing structures. By using the transfer matrix method (TMM) and numerical simulations, the designs of the sensor based on silicon waveguides are optimized and demonstrated in detail. We applied our structure to detect glucose and ethanol concentrations simultaneously. A high sensitivity of 9000 nm/RIU, detection limit of 2x10-4 for glucose sensing and sensitivity of 6000nm/RIU, detection limit of 1.3x10-5 for ethanol sensing are achieved.
  • Xây dựng mô hình sàng lọc in vitro hoạt chất hướng đích dựa trên các thụ thể hệ thần kinh trung ương tái tổ hợp

    1 Resources
    Thụ thể ở hệ thần kinh trung ương là một đích tác dụng quan trọng của thuốc, liên quan đến nhiều bệnh lý thần kinh. Chính vì vậy, nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xây dựng mô hình sàng lọc in vitro các hoạt chất hướng đích là các thụ thể ở hệ thần kinh trung ương. Phương pháp: Xây dựng hệ thống cDNA mang gen mã cho các thụ thể; sử dụng các vector Semliki Forest virus để biểu hiện nhanh và mạnh các thụ thể trên tế bào động vật có vú; sử dụng phép thử tương tác với thụ thể để nghiên cứu dược lý in vitro của tinh chất / dịch chiết methanol dược liệu. Kết quả: biểu hiện thành công 4 thụ thể, bước đầu xây dựng được 24 cDNA mã cho các thụ thể và 1 kit sàng lọc dược liệu với thụ thể neurokinin-1. Kết luận: mô hình sàng lọc thuốc in vitro đã được xây dựng thành công và ứng dụng trên thụ thể NK1 với độ nhạy và độ đặc hiệu cao. Đây là một công cụ hữu ích cho các nghiên cứu phát triển thuốc hướng đích tác dụng lên hệ thần kinh trung ương.
  • Nghiên cứu đa dạng nấm rễ nội cộng sinh (AMF- Arbuscular Mycorrhizal Fungi phân lập từ đất trồng ngô ở Hà Nội

    1 Resources
    Từ 15 mẫu đất thu thập từ rễ cây ngô ở Thường Tín, Hà Nội, chúng tôi đã phân lập được 576 bào tử nấm rễ nội cộng sinh (AMF). Dựa vào phân tích hình thái học, chúng được chia vào 8 chi, 15 loài, đó là: Acaulospora (3 loài): Acaulospora capsicula, Acaulospora mellea, Acaulospora rehmii; Cetraspora (1 loài): Cetraspora pellucid; Dentiscutata (2 loài): Dentiscutata nigra, Dentiscutata reticulate; Gigaspora (4 loài): Gigaspora albida, Gigaspora decipiens, Gigaspora gigantea, Gigaspora margarita; Glomus (2 loài): Glomus ambisporum, Glomus multicaule; Racocetra (1 loài): Racocetra gregaria; Rhizophagus (1 loài): Rhizophagus clarus; Septoglomus (1 loài): Septoglomus deserticola. Trong số đó, Dentiscutata, Racocetra, Rhizophagus và Septoglomus lần đầu tiên được công bố ở Việt Nam. Acaulospora, Dentiscutata, Gigaspora và Glomus là những chi chiếm ưu thế, Gigaspora decipiens, Gigaspora gigantean và Glomus multicaule là những loài chiếm ưu thế. Mật độ bào tử (SD) từ 9,5- 102 bào tử/100g đất (trung bình là 38,4 bào tử/100g đất), mật độ loài 1-7 loài/mẫu (trung bình là 3,3 loài/mẫu).
  • Thành phần hóa học tinh dầu loài Bời lời phiến lá thon (Litsea lancilimba) và Bời lời lá thuôn (Litsea elongata) ở Vườn Quốc gia Vũ Quang, Hà Tĩnh

    1 Resources
    Nghiên cứu thành phần hóa học tinh dầu từ lá loài Bời lời phiến lá thon (Litsea lancilimba) và Bời lời lá thuôn (Litsea elongata), hàm lượng tinh dầu đạt 0,17% và 0,20% tương ứng theo nguyên liệu tươi. Tinh dầu được phân tích bằng Sắc ký khí (GC) và sắc ký khí khối phổ (GC/MS). 34 hợp chất được xác định chiếm 90,8% tổng lượng tinh dầu của loài Bời lời phiến lá thon (Litsea lancilimba). Thành phần chính của tinh dầu là benzaldehyt (52,0%), 1-ethyl-4-methoxybenzen (14,6%), β-caryophyllen (5,4%), δ-cadinen (4,6%). Loài Bời lời lá thuôn (Litsea elongata) đã xác định được 20 hợp chất chiếm 90,5% tổng lượng tinh dầu sesquirosefuran (74,6%), trans-tageton (2,1%), δ-cadinen (2,0%) là các thành phần chính của tinh dầu. Đây là những dẫn liệu đầu tiên về hóa học tinh dầu của hai loài này.
  • Nghiên cứu nồng độ đường gây hạn và động thái enzym amylaza,proteaza trong quá trình nảy mầm của một số giống đậu tương khi gặp stress hạn

    1 Resources
    Nghiên cứu được tiến hành nhằm xác định nồng độ đường sacaroza gây hạn nhân tạo và phân nhóm chịu hạn của 5 giống đậu tương DT2008, DT51, DT99, DT26, DT2003 thông qua các chỉ tiêu nghiên cứu: số hạt nảy mầm, chiều dài mầm, hoạt độ enzymamylaza. Kết quả thu được cho thấychúng tôi đã xác định lànồng độ đường sacaroza6% có ảnh hưởng rõ ràng đến các chỉ tiêu nghiên cứu khi kéo dài thời gian gây hạn và chọn 3 giống đậu tương DT2008, DT2003, DT99 tương ứng với mức chịu hạn tốt, trung bình, kém để theo dõi động thái hoạt độ enzym amylaza, enzym proteaza trong điều kiện hạn. Kết quả chứng tỏ rằng tăng hoạt độ enzym amylaza có thể là một phản ứng không đặc trưng của đậu tương trong điều kiện hạn. Sự tăng hoạt độ proteaza có thể là một loại phản ứng đặc trưng.
  • Nghiên cứu thành phần loài kiến (Hymenoptera - Formicidae) ở Hà Nội và ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa lên các nhóm chức năng kiến

    1 Resources
    Kết quả phân tích các mẫu vật thu được bằng các phương pháp: bẫy mồi trên mặt đất, bẫy mồi chìm dưới đất, thu mẫu trực tiếp và thu mẫu bằng bẫy hố từ 7/2009 đến 12/2015 ở 77 điểm thu mẫu thuộc 21 quận huyện thuộc khu vực Hà Nội cho thấy đã xác định được 145 loài kiến, thuộc 53 giống, 9 phân họ, trong đó ba phân họ chiếm ưu thế nhất là Myrmicinae (18 giống, 66 loài); Formicinae (11 giống, 30 loài) và Ponerinae (11 giống, 27 loài). Kết quả nghiên cứu đã bổ sung 2 giống (Brachymyrmex Mayr, 1868 và Formosimyrma Terayama, 2009), 42 loài vào danh sách thành phần loài kiến Việt Nam và bổ sung 65 loài vào danh sách thành phần loài kiến ở Hà Nội.Các loài kiến thu được ở Hà Nội được xếp vào 9 nhóm chức năng: DD, OP, GM, CS, SC, SP, HCS, TCS và CCS, trong đó nhóm kiến cơ hội OP có số loài nhiều nhất (34 loài), tiếp đến là các nhóm CS (27 loài) và GM (26 loài). Nhóm cơ hội OP có số cá thể chiếm tỉ lệ cao nhất (51,7±23,1%), tiếp đến là nhóm cạnh tranh GM (30,0±21,1%), các nhóm chức năng còn lại đều có tỉ lệ cá thể dưới 10%. Có mối quan hệ tuyến tính âm có ý nghĩa thống kê giữa tỉ lệ % nhóm cạnh tranh (GM) và tỉ lệ % nhóm cơ hội (OP) trong khu vực nghiên cứu.Tỉ lệ nhóm cạnh tranh GM có xu...
  • Đánh giá thực trạng tiếp xúc với benzen, toluen ở người lao động trong một số nhà máy sản xuất sơn và giầy da

    1 Resources
    Người lao động làm trong ngành công nghiệp sơn và giày thường xuyên phải tiếp xúc với benzen, toluen. Với mục tiêu là đánh giá mức độ tiếp xúc của người lao động với benzen, toluen chúng tôi đã tiến hành xét nghiệm sản phẩm chuyển hóa của chúng trong nước tiểu bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao và phương pháp sắc ký khí. Axit hipuric và c-crezon trong nước tiểu được sử dụng như một chỉ số giám sát sinh học khi tiếp xúc với toluen, trans trans-muconic aicd (TT-MA) và phenol trong nước tiểu được sử dụng như một chỉ số giám sát sinh học khi tiếp xúc với benzen. Kết quả cho thấy có 1,05% đối tượng nghiên cứu có nồng độ phenol niệu vượt tiêu chuẩn cho phép;13,68% đối tượng có nồng độ TT-MA vượt tiêu chuẩn cho phép của Hội các chuyên gia công nghiệp của chính phủ Mỹ (ACGIH) (≥ 0,5mg/g creatinine) nhưng không có đối tượng nghiên cứu nào vượt tiêu chuẩn cho phép của Việt Nam(≥ 0,5g/g creatinine). Đánh giá mức độ tiếp xúc với toluen cho thấy không có đối tượng nghiên cứu nào có nồng độ axit hipuric (HA) niệu vượt tiêu chuẩn cho phép và có 37,89% đối tượng có nồng độ có nồng độ o-crezon niệu vượt tiêu chuẩn cho phép. Kết quả này cho thấy cần xem xét giá trị giới hạn nồng độ TT-MA...
  • Chi Vanvoorstia Harvey và loài Vanvoorstia spectabilis Harvey thuộc ngành rong Đỏ (Rhodophyta) mới cho khu hệ rong biển Việt Nam tại vùng biển Nha Trang, Khánh hòa

    1 Resources
    Chi Vanvoorstia Harvey thuộc lớp Delesseriaceae, bộ Ceramiales, ngành Rhdophytea. Chi Vanvoorstiacó hai loài là Vanvoorstiacoccinea Harvey ex. J. Agardh và Vanvoorstia spectabilis Harvey. Trên thế giới,loài Vanvoorstia spectabilis Harvey đang bố rất hẹp tại một số nước như Nhật Bản, Philippines, Indonesia, Micronesia, Makassar, Trung Quốc (tỉnh Quảng Đông), vùng Tây Thái Bình Dương và Sri Lanka. Ở Việt Nam, chi Vanvoorstia Harvey và loài Vanvoorstia spectabilis Harvey là chi và loài đầu tiên được phát hiện tại vịnh Nha Trang (Khánh Hòa).Đây là chi và loài mới cho hệ rong biển Việt Nam.
Bạn cũng có thể truy cập cơ quan đăng ký này bằng Giao diện lập trình ứng dụng (xem Văn bản API).