204 số bộ dữ liệu tìm thấy

Định dạng: word

Kết quả lọc
  • Danh lục các loài vi khuẩn lam dạng sợi không cótế bào dị hình (filamentous cyanobacteria without heterocytes) trong đất trồng ở Việt Nam theo hệ thống phân loại của Komárek et al. (2014)

    1 Resources
    Vi khuẩn lam dạng sợi không có tế bào dị hìnhthường phát triển thành những lớp mỏng màu xanh trên mặt đất và góp phần đáng kể trong việc làm giàu chất mùn cho đất trồng. Dẫn liệu về phân loại vi khuẩn lam trong đất trồng ở Việt Nam đã được công bố bởi một số tác giả chủ yếu dựa trên hệ thống phân loại của Hollerbach và cs. (1953), Desikachary (1959). Trong bài báo này, thành phần loài vi khuẩn lam dạng sợi không có tế bào dị hình phân bố trong đất trồng ở Việt Nam công bố từ năm 2010 trở về trước đã được thống kê và xắp xếp theo hệ thống phân loại của Komárek et al. (2014). Danh lục gồm có 70 loài thuộc 18 chi, 7 họ, 3 bộ. Trong số đó, 56 loài cũng có phân bố ở vùng ôn đới và 14 loài phân bố ở vùng nhiệt đới.
  • Bước đầu nghiên cứu đáp ứng của thụ thể Constitutive Androstane với dịch chiết Giảo cổ lam (Gynostemma pentaphyllum)

    1 Resources
    Đái tháo đường/tiểu đường là nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa với những biến chứng nguy hiểm, đang là mối lo của toàn xã hội. Bên cạnh các phương pháp điều trị bằng insulin, dược lý và liệu pháp ăn kiêng, dân gian từ lâu đã biết sử dụng một số loài cây để hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường. Giảo cổ lam (Gynostemma pentaphyllum) được biết đến như một cây thuốc quý trong hỗ trợ điều trị tiểu đường, điều hòa huyết áp và giảm mỡ máu, được sử dụng dưới dạng trà hoặc viên nén. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy thụ thể tế bào Constitutive Androstane (CAR) có khả năng đáp ứng với nhiều phân tử ngoại lai, có vai trò quan trọng trong việc cải thiện bệnh tiểu đường và béo phì. Do đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm hiểu đáp ứng của CAR với dịch chiết giảo cổ lam làm cơ sở để nghiên cứu vai trò của CAR trong cải thiện bệnh tiểu đường bằng dịch chiết này. Kết quả ban đầu cho thấy, sự biểu hiện của CAR và gen đích của nó là CYP2B6 trong tế bào HepG2 đã được tăng cường lần lượt khoảng 9,8 và 3,8 lần khi xử lý với dịch chiết giảo cổ lam (1µg/ml).
  • TỔNG HỢP VÀ ĐẶC TRƯNG VẬT LIỆU COMPOSITE HYDROXYAPATITE - CHITOSAN ỨNG DỤNG TRONG KỸ THUẬT Y SINH SYNTHESIS AND CHARACTERIZATION OF HYDROXYAPATITE/CHITOSAN COMPOSITE MATERIAL FOR MEDICAL ENGINERING APPLICATIONS

    1 Resources
    Nghiên cứu này đi tổng hợp vật liệu composite HA-Chitosan ứng dụng trong kỹ thuật y sinh. Kết quả phân tích bằng phương pháp XRD và SEM khẳng định sự kết tủa và phân tán vật liệu HA trong cấu trúc polyme chitosan. Kích thước hạt HA kết tủa phụ thuộc nồng độ polyme chitosan trong thành phần vật liệu composite tổng hợp. Khối lượng riêng và độ bền nén của vật liệu composite HA-Chitosan có giá trị phụ thuộc lực ép tạo mẫu và tăng theo hàm lượng của polyme chitosan.
  • Tách dòng vàđồng biểu hiện gen mã hóa hai loạikháng nguyên vỏGP5ecto (vùng ngoại bào) và M của virus gây hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn

    1 Resources
    Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (Porcine reproductive and respiratory syndrome - PRRS) là một loại bệnh truyền nhiễm phổ biến trong chăn nuôi lợn, do virus PRRS (PRSSV) gây ra.Protein GP5 (ORF5) là glycoprotein vỏ ngoài, bao gồm vùng ngoại bào (ectodomain) và vùng nội bào (endodomain).. Protein M (ORF6) là protein cấu trúc bảo thủ nhất của virus và không bị glycosyl hóa.Protein GP5 và M liên kết chặt chẽ với nhau bằng cầu disulfit giúp cho việc lắp ráp và lây nhiễm của virus.Sự biểu hiện đồng thời của protein GP5 và M có thể phát triển phản ứng miễn dịch mạnh hơn.Trong nghiên cứu này,hai đoạn gen mã hóa cho protein GP5ecto (vùng ngoại bào) và M của chủng virus PRRS (VN07196) được khuếch đại riêng lẻ.Hai đoạn gen này sau đó được ghép nối với nhau bằng kỹ thuật PCR lồng sử dụng các căp mồi đặc hiệu; được gắn kết với promoter 35S, Histag và Cmyc, ELP; nhân dòng trong vector pRTRA và thiết kế vào cấu trúc vetor chuyển gen thực vật pCB301. Protein tái tổ hợp GP5ecto-M gắn kết ELP được biểu hiện thành công trong lá cây thuốc lá N. benthamiana bằng công nghệ biểu hiện gen tạm thời, tối ưu và tinh sạch protein GP5ecto-M bằng phương pháp mITCcho thấy đã tinh sạch thành công...
  • Nghiên cứu so sánh đặc điểm sinh học cá Chỉ vàng – Selaroides leptolepis (Cuvier, 1833) theo mùa tại vùng biển ven bờ tỉnh Bình Thuận

    1 Resources
    Kết quả phân tích đặc điểm sinh học của 270 mẫu cá Chỉ vàng ở vùng ven biển tỉnh Bình Thuận trong hai đợt thu mẫu (đợt 1vào mùa mưa: 25/ 9/2013 – 5/10/2013 với 150 mẫu; đợt 2 vào mùa khô: 26/3/2017 với 120 mẫu) cho thấy: Kích thước cá dao động trong khoảng từ 92mm đến 160mm về chiều dài và từ 8g đến 55g về khối lượng, nhưng tập trung ở khoảng 115mm – 130mm và 18g – 40g. Phương trình tương quan giữa chiều dài và khối lượng: W = 2,25 x 10-6 x L2,92 (r = 0,89). Các thông số sinh trưởng của phương trình von Bertalanffy được xác định: L∞ = 192,89 mm; W∞ = 73,46g; k = 0,586; to = -0,603; b = 2,92. Nhóm cá đánh bắt gồm 3 nhóm tuổi 1+, 2+, 3+ nhưng tập trung ở nhóm tuổi 1+ (đợt 1: 56,67%; đợt 2: 49,43%). Thức ăn chính của cá là các loài động vật giáp xác cỡ nhỏ, thuộc các nhóm Copepoda, Ostacoda, Amphipoda và Macrura. Độ chín sinh dục của cá thấp, tập trung ở bậc I, II và III, không thấy cá thể nào ở bậc V và VI.
  • Thành phần hóa học tinh dầu loài Tiêu trên đá(Piper saxicola C. DC.) ở Vườn Quốc gia Bến En, Thanh Hóa

    1 Resources
    Hàm lượng tinh dầu ở lá loài Tiêu trên đá (Piper saxicola C. DC.) đạt 0,20% trọng lượng tươi. Trong tinh dầu được đặc trưng bởi các sesquitecpen (85,9%); trong đó các sesquitecpen chứa oxy chiếm 28,7%, các sesquitecpen hydrocacbon chiếm 57,2%; các thành phần khác chiếm tỷ lệ không đáng kể. Đã xác định được 40 hợp chất chiếm 98,9% tổng lượng tinh dầu. Thành phần chính của tinh dầu là trans calamen (16,4%), β-caryophyllen (14,8%), caryophyllene oxit (13,0%), eucarvon (7,5%).
  • Low-Temperature ZnO Thin Film and Its Application in PbS Quantum Dot Solar Cells

    1 Resources
    Zinc oxide (ZnO) has been widely deployed as electron conducting layer in emerging photovoltaics including quantum dot, perovskite and organic solar cells. Reducing the curing temperature of ZnO layer to below 200 oC is an essential requirement to reduce the cell fabrication cost enabled by large-scale processes such as ink-jet printing, spin coating or roll-roll printing. Herein, we present a novel water-based ZnO precursor stabilized with labile NH3, which allow us to spin coat crystalline ZnO thin films with temperatures below 200 oC. Thin film transistors (TFTs) and diode-type quantum dot solar cells (QD SCs) were fabricated using ZnO as electron conduction layer. In the QD SCs, a p-type 1,2-ethylenedithiol treated PbS QDs with a bandgap of 1.4 eV was spin-coated on top of ZnO layer by a layer-by-layer solid state ligand exchange process. Electron mobility of ZnO was about 0.1 cm2V-1s-1 as determined from TFT measurements. Power conversion efficiency of solar cells: FTO/ZnO/PbS/Au-Ag was 3.0% under AM 1.5 irradiation conditions. The possibility of deposition of ZnO at low temperatures demonstrated herein is of important for solution processed electronic and optoelectronic...
  • ỨNG DỤNG KỸ THUẬT LAI SO SÁNH HỆGEN TRONG XÁC ĐỊNH BIẾN ĐỔI DI TRUYỀN Ở BỆNH NHÂN U NGUYÊN BÀO THẦN KINH KHÔNG KHUẾCH ĐẠI GEN MYCN

    1 Resources
    U nguyên bào thần kinh (NBTK) là khối u ác tính ngoài sọ phổ biến nhất ở trẻ em, và được đặc trưng bởi sự không đồng nhất về mặt sinh học dựa trên sự đa dạng trong các biến đổi di truyền. Việc xác định biến đổi di truyền là một công cụ mạnh mẽ giúp cho các nhà lâm sàng phân nhóm nguy cơ và lựa chọn phác đồ điều trị chính xác cho từng bệnh nhân. Điều này sẽ góp phần làm tăng cơ hội điều trị thành công và giảm tối đa liều lượng hóa chất cho bệnh nhân.Đối tượng:6 bệnh nhân u NBTK nhỏ hơn 18 tháng tuổi, không có khuếch đại gen MYCN, ở giai đoạn L2 và M trong đầu năm 2017 tại Bệnh viện Nhi Trung Ương. Phương pháp:Kỹ thuật lai so sánh hệ gen được thực hiện trên hệ thống CGH của hãng Agilent, với tiêu bản có độ phân giải 400000đoạn oligo nucleotit. Kết quả: Đã xác định được biến đổi di truyền của 6 bệnh nhân, trong đó 4 bệnh nhân đang ở giai đoạn L2 có biến đổi về số lượng nhiễm sắc thể và 2 bệnh nhân (01 bệnh nhân giai đoạn L2 và 1 bệnh nhân giai đoạn M) có biến đổi cấu trúc nhiễm sắc thể. Dựa trên kết quả này, 4/5 bệnh nhân giai đoạn L2 được chỉ định không cần điều trị hóa chất tiếp, 1/5 bệnh nhân được chỉ định tiếp tục điều trị hóa chất. 1 bệnh nhân giai đoạn M có 50% cơ hội điều...
  • Nhân giống vô tính giống Gừng Trâu (Zingiber officinale (Willd.) Roscoe) qua nuôi cấy cắt lát tế bào in vitro

    1 Resources
    Gừng là cây trồng truyền thống ở Việt Nam cũng như ở nhiều nước châu Á với mục đích chủ yếu là làm gia vị và dược liệu. Nghiên cứu này chú trọng xác định điều kiện ở một số bước chính giúp nhân nhanh in vitro giống Gừng Trâu qua phương pháp nuôi cấy lát cắt tế bào. Bước đầu kết quả đã đạt được như sau: Ở giai đoạn khử trùng, mẫu được khử trùng bằng NaClO (20%) trong 15 phút là công thức khử trùng phù hợp nhất với tỉ lệ mẫu sống lên 63,3 %. Chuyển sang giai đoạn nuôi cấy cắt lát môi trường (MT) MS có bổ sung 3mg/l BAP có tỉ lệ tạo chồi, tiền chồi tốt nhất để tiếp tục làm vật liệu cho giai đoạn nhân nhanh. Trong giai đoạn nhân nhanh môi trường có bổ sung vitamin B1 có ảnh hưởng tốt hơn đến cây cụ thể MT bổ sung có bổ sung 1,0 mg/l BAP; 0,1 mg/l Ki và 3mg/l B1 là phù hợp nhất. Các chồi sau đó được chuyển sang môi trường bổ sung 3 mg/l B1 và 0,3 mg/l NAA sẽ cho hệ rễ phát sinh tốt nhất sau 1 tháng.
  • Đánh giá tiềm năng tài nguyên khí hậu khu vực Hoàng Liên Sơn (thuộc tỉnh Lào Cai) phục vụ quy hoạch phát triển cây Tam thất (Panax pseudo-ginseng Wall.)

    1 Resources
    Tam thất (Panax pseudo-ginseng Wall.) là cây dược liệu có giá trị kinh tế cao được trồng nhiều ở các tỉnh Tây Bắc nước ta nhưng việc trồng Tam thất hiện nay còn mang tính tự phát dẫn tới những khó khăn trong việc quản lý, khai thác, điều tiết giá cả thị trường... Trên cơ sở phân tích ảnh hưởng của các điều kiện sinh khí hậu khu vực Hoàng Liên Sơn (tỉnh Lào Cai) đến quá trình sinh trưởng, phát triển của cây Tam thất, chúng tôi đã phân chia các ngưỡng thích nghi cho từng yếu tố khí hậu từ đó đánh giá mức độ thích nghi sinh thái của cây Tam thất với các kiểu sinh khí hậu khác nhau. Kết quả nghiên cứu cho thấy, khu vực Hoàng Liên Sơn (thuộc tỉnh Lào Cai) bao gồm 15 kiểu sinh khí hậu khác nhau trong đó có 04 kiểu rất thích hợp (S1), 02 kiểu thích hợp (S2), 07 kiểu ít thích hợp (S3) và 02 kiểu không thích hợp (N) cho sự sinh trưởng, phát triển của Tam thất. Khu vực rất thích hợp (S1) cho việc phát triển cây Tam thất thuộc kiểu sinh khí hậu IIB2a, IIIA2a, IIIB2a, IIIB2b phân bố ở độ cao từ 700 đến 2200m phía Tây của tỉnh Lào Cai trên dãy Hoàng Liên Sơn trải dài từ Văn Bàn đến Bát Xát. Đây là cơ sở khoa học để quy hoạch việc trồng, khai thác và phát triển cây Tam thất nhằm cải thiện...
  • Đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học nông nghiệp tại hai xã Tênh Phông và Quài Tở, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên phục vụ phát triển kinh tế xã hội bền vững

    1 Resources
    Mặc dù đa dạng sinh học nông nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến tính bền vững của hệ thống nông nghiệp nhưng ở Việt Nam các nghiên cứu về đa dạng sinh học nông nghiệp còn hạn chế. Báo cáo này cung cấp những dẫn liệu ban đầu về các giống cây trồng, vật nuôi trong hệ sinh thái nông nghiệp tại hai xã Tênh Phông và Quài Tở thuộc huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hệ sinh thái nông nghiệp tại đây có mức độ đa dạng sinh học khá cao với 118loài thực vậtvà 15 loài vật nuôi với nhiều giống cây lương thực bản địa. Sự phân bố và phổ biến các loài/giống giữa hai xã là khác nhau do sự khác biệt về điều kiện tự nhiên và kinh tế-xã hội nhưng lại giống nhau ở hiệu quả từ mô hình sản xuất cũ, đặc biệt là tại xã Tênh Phông. Đây là cơ sở khoa học để quy hoạch phát triển nông nghiệp theo hướng nâng cao sinh kếnhưng vẫn đảm bảo tính bền vững của hệ sinh thái nông nghiệp và bảo tồn đa dạng sinh học trong nông nghiệp.
  • Phân lập và tuyển chọn các chủng vi khuẩn từ vùng rễ cây trồng có khả năng kháng phổ rộng các nấm gây bệnh thực vật

    1 Resources
    Sản xuất nông nghiệp hiện nay bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi các vi sinh vật gây bệnh trong đó có vi nấm. Việc sử dụng các hóa chất để diệt nấm gây bệnh thực vật đã ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng nông sản vàgây môi trường. Biện pháp kiểm soát sinh học sử dụng các chế phẩm vi sinh vật chống nấm là một trong những ưu tiên hàng đầu trong sản xuất các sản phẩm nông nghiệp an toàn hiện nay. Trong nghiên cứu này, 254 chủng vi khuẩn đã được phân lập từ vùng rễ cây trồng, trong đó 11 chủng có đặc tính đối kháng chống lại nhiều loài nấm gây bệnh gồmFusarium oxysporum,Phytophthora capsici,Sclerotium hydrophila, Neoscytalidiumdimidiatum, Aspergillus flavusvà Aspergillus niger. Các chủng này được định danh là Bacillus subtilis, Bacillus amyloliquefaciens và Burkholderia vietnamienisbằng giải trình tự gen 16S rRNA. Các chủng thuộc chi Bacillusđều có khả năng sinh enzyme ngoại bào mạnh để phân giải cơ chất tinh bột, casein, chitin có trong môi trường.Các chủng vi khuẩn thu được trong nghiên cứu này có thể sử dụng để bổ sung vào các chế phẩm vi sinh hoặc phân bón hữu cơ nhằm thay thế thuốc bảo vệ thực vật hóa học, góp phần bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sản phẩm nông nghiệp.
  • Nghiên cứu tăng khả năng sinh tổng hợp manganese peroxidase (MnP) ở nấm Phanerochaete chrysosporium và bước đầu ứng dụng để phân hủy glyphosate

    1 Resources
    Hệ enzyme phân hủy lignin bao gồm các enzyme manganese peroxidase (MnP), lignin peroxidase (LiP), laccase (Lac) có khả năng phân hủy hợp chất phức tạp khó phân hủy, là lignin. Ngoài ra, nhiều nghiên cứu đã cho thấy hệ enzyme phân hủy lignin có khả năng phân hủy các hợp chất hữu cơ độc hại như các loại thuốc trừ sâu, các hợp chất phenolic, thuốc trừ cỏ glyphosate,… Trong đó MnP từ chủng nấm mục trắng Phanerochaete chrysosporium được xem là có khả năng phân hủy glyphosate. Mục tiêu của nghiên cứu này là tăng hiệu quả phân hủy glyphosate qua việc khảo sát các yếu tố tác động gồm nồng độ glucose, ammonium tartrate và thời gian nuôi cấy để tăng khả năng sinh tổng hợp MnP từ nấm Phanerochaete chrysosporium. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy hoạt tính MnP sinh tổng hợp đạt 49,75UI/L ở điều kiện môi trường PGB chứa 0,2% glucose, 5g/L ammonium tartrate và thời gian nuôi 9 ngày. Ngoài ra nghiên cứu cũng đã chứng minh được khả năng phân hủy glyphosate của MnP là cao hơn LiP và Lac.
  • Đa dạng di truyền của các giống đậu tương khác nhau về đặc tính kháng bệnh phấn trắng bằng chỉ thị SSR

    1 Resources
    Bệnh phấn trắng gây ra bởi nấm Microsphaera diffusa Cke. & Pk. là một trong các bệnh chính hại đậu tương ở Việt Nam. Chỉ thị SSR (Simple sequence repeats) là một chỉ thị đồng trội, đa hình và ổn định cao nên được sử dụng rộng rãi để đánh giá đa dạng di truyền, xác định chỉ thị liên kết tính kháng bệnh ở đậu tương. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đánh giá đa dạng di truyền của 36 mẫu giống đậu tương khác nhau về tính kháng bệnh phấn trắng bằng 14 chỉ thị SSR. Kết quả thu được 61 allen biểu hiện ở 14 locus, đạt giá trị trung bình 4,36 allen/locus, điều này thể hiện đa dạng di truyền cao ở các giống nghiên cứu. Giá trị PIC dao động từ 0,00 (Sat_396, Satt183, Sat_298) đến 0,748 (Satt009), đạt giá trị trung bình 0.364. Ở mức tương đồng di truyền 75%, 36 mẫu nghiên cứu được chia thành 8 nhóm. Các nhóm 1, 2, 4, 5 và 8 bao gồm các giống đậu tương kháng bệnh phấn trắng. Sự đa dạng di truyền của các giống đậu tương khác nhau về đặc tính kháng bệnh phấn trắng được xác định trong nhiên cứu này được sử dụng để nhận dạng giống đậu tương và đề xuất các tổ hợp lai cho chương trình tạo giống đậu tương kháng bệnh phấn trắng.
  • Nghiên cứu hoàn thiện quy trình chẩn đoán di truyền trước chuyển phôi bệnh teo cơ tủy bằng kỹ thuật minisequencing

    1 Resources
    Bệnh teo cơ tủy là bệnh thần kinh cơ do bị mất đồng hợp exon 7 gen SMNt trên nhiễm sắc thể số 5. Trẻ bị bệnh teo cơ tủy thường chết sớm ở lứa tuổi đi học. Vì vậy, mục tiêu của nghiên cứu là hoàn thiện quy trình phát hiện đột biến mất đồng hợp exon 7 gen SMNt gây bệnh teo cơ tủy trước chuyển phôi bằng kỹ thuật minisequencing. Nghiên cứu được tiến hành trên 30 mẫu tế bào phôi sinh thiết từ phôi dư, 04 cặp mang gen có nguyện vọng sinh con khỏe mạnh. Nhân toàn bộ bộ gen trên 30 mẫu tế bào phôi sinh thiết từ phôi dư, sau đó nhân exon 7 gen SMNt phát hiện đột biến gây bệnh teo cơ tủy bằng kỹ thuật minisequencing để chuẩn hóa quy trình chẩn đoán di truyền trước chuyển phôi bệnh teo cơ tủy. Ứng dụng quy trình với 4 gia đình tham gia nghiên cứu, kết quả 02 cặp thành công với 2 trẻ khỏe mạnh ra đời. Chúng tôi đã hoàn thiện và ứng dụng thành công kỹ thuật minisequencing trong chẩn đoán di truyền trước chuyển phôi bệnh teo cơ tủy.
  • Các loài Ếch cây sần giống Theloderma (Amphibia - Anura - Rhacophoridae) ở tỉnh Sơn La

    1 Resources
    Nghiên cứu từ năm 2012 đến 2016 tại tỉnh Sơn La, chúng tôi đã ghi nhận được 5 loài ếch cây sần thuộc giống Theloderma. Trong đó có tới 4 loài lần đầu tiên ghi nhận ở tỉnh này: Theloderma albopunctatum, T. bicolor, T. gordoni và T. lateriticum. Những ghi nhận mới này đã nâng tổng số loài ếch nhái ghi nhận được cho tới nay ở tỉnh Sơn La lên 45 loài. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng cung cấp những thông tin bổ sung về đặc điểm nơi sống của các loài ếch cây sần nói trên.
  • Vị trí không giáp biển: Cơ hội và thách thức cho phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa (landlocked location: opportunity and challenge for subtainable development in context of globalization)

    1 Resources
    Bài viết được thực hiện trong bối cảnh các quốc gia không giáp biển cùng nhau chia sẻ một bất lợi địa lý nhưng lại có sự phát triển khá đa dạng đã thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế trong việc lý giải sự đa dạng đó, đặc biệt khi quá trình toàn cầu hóa đã đặt ra những cơ hội và thách thức cho sự phát triển bền vững của những quốc gia này. Từ kết quả nghiên cứu cho thấy, sự phát triển của một quốc gia không chỉ ảnh hưởng bởi duy nhất yếu tố địa lý nhưng vai trò của địa lý là quan trọng.
  • Khảo sát một số đặc điểm hóa học và tác dụng chống oxy hóa (antioxydant) của các hợp chất Flavonoid chiết xuất từ các một số loài lan Kim tuyến của Việt Nam

    1 Resources
    Chiết xuất vàTiến hành chiết xuất và định lượng Flavonoid theo qui trình B.C. Talliđịnh lượng Flavonoid tổng số từ3 loài lan Kim tuyến của Việt Nam, kết quả cho thấyhàm lượng Flavonoid tổng số cao nhất ở loài Anoectochilus roxburghii (Wall.) Lindl (1.345%), sau đó đến loàiAnoectochilus lylei Rolfe ex Downiex (1.044%) và thấp nhất là loài Anoectochilus aff. anamensis Aver (0.903%). Hợp chất Flavonoid được tích lũy chủ yếu ở lá cây lan Kim tuyến. Tiến hành sắc ký lớp mỏng chế phẩm Flavonoid tổng số thu chiết xuất từ các loài lan Kim tuyến ở hệ dung môi Ethylaxetat : Toluen : Acxitd formic : Nước = 7:3:1,5:1 (v:v:v:v) nhận thấy có từ 9-14 cấu tử được tách ra, các cấu tử tách rõ ràng, riêng biệt và có các đặc điểm định tính đặc trưng của nhóm chất Flavonoid. Hợp chất Flavonoid chiết xuất từ 3 loài lan Kim tuyến đều thể hiện hoạt tính chống oxy hóa tốt thông qua phản ứng oxy hóa indigocarmin bởi enzym peroxydaza trên nhóm máu O. Thứ tự chống oxy hóa của các loài lan Kim tuyến trong nghiên cứu như sau: Anoectochilus roxburghii (Wall.) Lindl>Anoectochilus lylei Rolfe ex Downiex >Anoectochilus aff. anamensis Aver.
  • Ứng dụng chủng Komagataeibacter saccharivorans A2 cho quá trình lên men dấm táo mèo bằng phương pháp lên men chìm

    1 Resources
    Dấm táo mèo là sản phẩm của Việt Nam, nó được tạo ra trong quá trình lên men từ rượu táo mèo trong điều kiện hiếu khí nhờ vi khuẩn acetic. Trong bài báo này chúng tôi đã sử dụng phương pháp lên men chìm để tạo ra sản phẩm dấm táo từ nguyên liệu táo mèo hay còn gọi là quả Sơn Tra. Trên cơ sở dịch rượu thu nhận được từ quy trình sản xuất rượu táo mèo của Viện Công nghiệp Thực phẩm, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu khảo sát các thông số công nghệ ảnh hưởng đến quá trình lên men và đã xây dựng được quy trình công nghệ sản xuất dấm táo mèo với các thông số: Chủng Komagataeibacter saccharivorans A2: 9%, cồn ban đầu: 6%, acid acetic ban đầu: 0,6%, đường saccharose: 9 g/l, cao nấm men: 0,5 g/l, glycerol: 0,5 g/l, chất khoáng: MgSO4.7H2O: 0,25 g/l, KH2PO4: 0,25 g/l, (NH4)2HPO4: 0,5 g/l. Sản phẩm dấm táo mèo thu được có nồng độ acid acetic 4,53 %.
  • Dẫn liệu về thành phần loài Cánh cứng (Insecta - Coleoptera) ở nước tại một số thủy vực thuộc tỉnh Quảng Nam

    1 Resources
    Dựa vào kết quả phân tích mẫu Cánh cứng ở nước trưởng thành thu thập trong 2 đợt điều tra thực địa vào tháng 9/2015 và tháng 8/2016 tại một số thủy vực thuộc tỉnh Quảng Nam, đã xác định được 34 loài thuộc 26 giống, 8 họ. Trong đó, có 5 loài lần đầu tiên được ghi nhận tại Việt Nam là Macronychus reticulatus Kodada, Gyrinus distinctus Aubé, Orectochilus punctipennis Sharp, Porrorhynchus marginatus Laporte và Laccobius senguptai Gentili. Trong số 8 họ thu được tại khu vực nghiên cứu, họ Elmidae có số lượng loài nhiều nhất với 8 loài, tiếp đến là họ Hydrophilidae và Gyrinidae với 7 loài, họ Dytiscidae với 6 loài, họ Dryopidae với 3 loài và các họ Chrysomelidae, Staphylinidae, Heteroceridae có số lượng loài ít nhất với 1 loài mỗi họ. Đây là những dẫn liệu bước đầu về thành phần loài Cánh cứng tại khu vực tỉnh Quảng Nam.
Bạn cũng có thể truy cập cơ quan đăng ký này bằng Giao diện lập trình ứng dụng (xem Văn bản API).